Họa Quốc

Chương 19: Hồi Thứ Mười Chín: Tân vương

Thập Tứ Khuyết

06/03/2015

Tháng ba, hoa xuân rực rỡ.

Muôn vàn cỏ cây đua nhau khoe sắc trong vườn hoa, đặc biệt là hoa lê, đóa đóa trắng thơm như tuyết, tô điểm cho cảnh trí tĩnh mịch thoát tục, phô bày ý xuân ngời ngời căng tràn sức sống.

Tiếng đàn từ trong một nhã xá đẹp đẽ phía xa như nước chảy mây trôi vang vọng tới.

Nam tử đi sau Hoài Cẩn dừng bước, chăm chú lắng nghe giây lát, tấm tắc khen ngợi: “Hay cho một khúc ‘Khúc kính thông u’(1), thật là hợp thời hợp cảnh”.

Hoài Cẩn nhoẻn cười: “Bệ hạ thích là được rồi. Mời đi theo nô tì”. Nói rồi dẫn vị khách đến trước nhã xá.

Tiếng đàn đó dường như cũng biết có khách nên ngừng lại.

Hoài Cẩn đẩy cửa phòng, cúi mình nói: “Nô tì chỉ đưa đến đây, mời bệ hạ tự mình vào trong”.

Nam tử nhấc chân bước qua bậu cửa, cửa phòng lập tức khẽ khàng được khép lại từ bên ngoài.

Bên trong là một sảnh nhỏ vuông vắn, một tấm bình phong bằng đá ngăn gian ngoài và gian trong. Sảnh ngoài đặt một chiếc bàn bằng gỗ đàn hương, bên trên có bày một cây đàn, nhưng người đánh đàn đã không còn ngồi đó. Trên bệ cửa sổ, hai bồn hoa nhài đang nở rộ, khiến toàn bộ căn phòng tràn ngập hương hoa thanh mát. Ngoài ra không còn vật gì khác.

Bày biện không thể đơn giản hơn, nhưng đâu đâu cũng toát lên cá tính tao nhã tự nhiên của chủ nhân. Cho dù là người thô tục hơn nữa, khi bước vào đây e rằng cũng đều trở nên giữ kẽ, huống hồ người đến lúc này vốn là một nhã khách.

Vì thế, chàng không nói gì mà bước đến bên cây đàn, ngồi xuống, cũng tấu một khúc. Tiếng đàn dìu dặt mênh mang, lãng đãng như gió mát, giai điệu nhẹ nhàng, cùng với ánh dương bên ngoài cửa sổ, thật là thích ý.

Bản nhạc đã dứt, người ở phòng trong vẫn chưa lên tiếng đáp lại, khách đến đã tự vỗ tay nói: “Không ngờ ba năm nay ta không đàn, mà vẫn không quên bài ‘Dương xuân bạch tuyết’ này đàn như thế nào, không tồi, không tồi”.

Từ gian trong truyền ra một tiếng cười nhẹ, tiếp đó, một giọng nói thanh thoát dịu dàng vang lên: “Đây cũng là lần đầu tiên ta nghe thấy một bản nhạc đàn sai hơn mười âm trở lên, nhưng cũng không đến nỗi quá khó nghe”.

Người khách cười hì hì: “Là đàn tốt. Chẳng trách nàng coi thường cây Lôi Ngã cầm của Chương Hoa. Có cây đàn Lục Y thiên hạ độc nhất vô nhị này, đúng là không cần cây danh cầm nào khác”. Ngừng lại một lát, chàng gọi tên đối phương: “Tiểu Ngu, đã lâu không gặp”.

Người sau bức bình phong im lặng một lát rồi mới trả lời: “Cách xưng hô này của bệ hạ, thật là khiến người ta hoài niệm… Cách biệt từ độ ở Trình quốc, dễ chừng đã hơn nửa năm không gặp, Nghi vương vẫn khỏe chứ?”.

Nam tử bên đàn ngước mắt lên, ánh mắt như nước, như lửa, như ánh sáng quét qua lưu ly, như mưa rơi trên mái hiên, như hết thảy những thứ linh động trên đời, có một sức mê hoặc câu hồn đoạt phách, người đó không phải ai khác, chính là quân vương của Nghi quốc – Hách Dịch.

Mà nữ tử được gọi là Tiểu Ngu đó không cần nói cũng biết chính là Khương Trầm Ngư.

Hách Dịch nhìn chăm chú vào bức bình phong chạm khắc cành hoa phù dung, ánh nhìn lại như xuyên thủng mặt đá để nhìn thấy người bên trong, biểu cảm có chút mơ màng, lại có chút vui mừng, nhẹ nhàng nói: “Nói một cách chính xác là tám tháng lẻ ba ngày, tổng cộng là hai trăm bốn mươi sáu ngày”.

Khương Trầm Ngư phía trong ngẩn người ra, bỗng chốc không nói gì nữa.

Lần này nàng đặc biệt hẹn Hách Dịch tới với mục đích là trả nợ. Tuy trước khi rời Trình quốc, ba cây pháo hoa Hách Dịch tặng đều bị nàng dùng hết, nhưng khi gặp khó khăn, người đầu tiên nàng nhớ đến có thể xin giúp đỡ vẫn là chàng.

Từ phút biết tin Cơ Anh chết, nàng đã quyết tâm nhất định phải điều tra ra chân tướng: Tại sao phụ thân phải giết Cơ Anh, tại sao Chiêu Doãn lại ngầm cho phép hành vi này? Vì thế, sau khi về cung, một mặt nàng đối phó với Chiêu Doãn, tiếp tục đóng vai Thục phi ngoan ngoãn nghe lời, một mặt lại ngầm điều tra chân tướng… Hết thảy những việc này đều cần đến tiền.

Khi nàng đoạn tuyệt với Khương Trọng, căn bản không thể sử dụng nhân lực và tiền bạc của Khương gia. Vì thế, trong lúc nguy cấp nàng liền nhớ tới Hách Dịch. Nàng và Hách Dịch liên lạc với nhau thông qua Tiết Thái, thỏa thuận với chàng: Chàng cấp cho nàng tất cả phí tổn của những việc này, sau khi xong việc, nàng sẽ phải trả gấp đôi.

Đến nay, đại quyền trong tay, thiên hạ mới an định là lúc nàng nên trả nợ.

Thế nhưng, rõ ràng là làm việc công, nhưng vì một câu nói này của Hách Dịch mà ý nghĩa đã hoàn toàn thay đổi.

Khương Trầm Ngư ngồi sau bình phong, trong lòng không phải không rõ: Sở dĩ Hách Dịch hào phóng cho nàng mượn tiền, không phải vì món lợi nhuận gấp đôi đó, mà bản thân mình năm đó rõ ràng đã từ chối tâm ý của chàng, nhưng sau cùng vẫn bất đắc dĩ phải mở miệng nhờ chàng giúp.

Có những chuyện, một khi đã mắc míu, thì không thể hoàn toàn cắt đứt được.

Nàng hiểu rõ điểm này hơn ai hết, nhưng vẫn phạm vào cấm kỵ.

Nợ tiền có thể trả, nhưng nợ tình… biết trả thế nào cho hết đây?

Chính trong lúc nàng ngổn ngang trăm mối suy tư, Hách Dịch phá tan bầu không khí bối rối gượng gạo bằng một tiếng cười sang sảng, sau đó đẩy cây cổ cầm ra, vuốt tóc mai, nói: “Nhiều ngày nay, ta đếm từng ngày, nhớ nhung từng ngày, lòng nghĩ không biết đến bao giờ nàng có thể trả tiền, rốt cuộc có thể trả nổi hay không? Đếm đến mức ta bạc mấy sợi tóc rồi…”.

Khương Trầm Ngư biết chàng đang nói dối, nhưng vẫn không nhịn được bị chọc cười: “Bệ hạ thật không hổ là thương nhân”.

“Cho nên những gì ta đầu tư vào luôn luôn chỉ có thể là thương vụ hái ra tiền”. Hách Dịch nói đến đây, mắt lộ vẻ tán thưởng, khẽ than: “Còn nàng, có thể nói là khoản đầu tư thành công nhất trong bao năm qua của ta”.

“Là tiền của bệ hạ tốt”. Câu này không phải là nói chơi. Nếu không phải nhờ khoản tiền khổng lồ do Hách Dịch cung cấp đó, cái khác không nói, chỉ riêng đại thái giám La Hoành và Thất tử của Bách Ngôn đường nàng đã không thể mua chuộc được. Sau khi nàng đầu độc Chiêu Doãn có thể thuận lợi bình định tất cả như thế, La Hoành và bọn Thất tử có công rất lớn.

Hách Dịch hiển nhiên cũng biết những việc này, vì thế, trong ánh mắt nhìn về bình phong chất chứa vài phần cảm khái: “La Hoành ở bên cạnh Bích vương chín năm, có thể nói là thuộc hạ được tín nhiệm nhất của Chiêu Doãn, mà đến ông ta nàng cũng có thể lôi kéo về phe mình, đó tuyệt đối không phải chuyện có nhiều tiền là có thể làm được”.

Khương Trầm Ngư cười nhạt: “La Hoành là một hoạn quan, đã được thăng cao đến cực đỉnh, không thể thăng chức thêm nữa, mà lão là nhân vật quan trọng bên cạnh hoàng thượng, thường ngày căn bản cũng không thiếu hối lộ. Cho nên, số tiền bình thường đương nhiên không có tác dụng. Nhưng phàm là người ai cũng có nhược điểm, thuở còn trẻ gia cảnh lão nghèo túng, bất đắc dĩ mới phải vào cung tịnh thân làm nô tài, không có con cái nối dõi là nỗi nuối tiếc lớn nhất của đời lão”.

“Mà nàng tìm được mối tình đầu lão từng ngưỡng mộ thời thiếu niên, chồng của người tình đó đã chết, để lại mẹ góa con côi không chỗ dựa. Nàng cho La Hoành một mái nhà. Chiêu Doãn tuyệt đối không thể tưởng tượng nổi thần tử mà hắn coi trọng như vậy lại phản bội lại hắn vì một nữ tử và một đứa con không chung huyết thống”.

Khương Trầm Ngư thong thả nói: “Có lúc lòng người rất dễ được thỏa mãn. Núi vàng núi bạc cũng không bằng một người có thể ở bên cạnh để nói chuyện. Không phải sao?”.

Hách Dịch dường như bị câu nói này khơi dậy biết bao cảm xúc, ánh mắt sáng lấp lánh, thần sắc phức tạp. Để che giấu cảm xúc ấy, chàng đưa tay lên miệng hắng giọng vài tiếng, chuyển chủ đề khác: “Thế Thất tử thì sao? Từ sau khi Chiêu Doãn nổi giận bí mật xử tử Hàn lâm bát trí, để chọn ra những ‘quân sư’ mới cũng có thể coi là đã phí nhiều công sức. Bảy người này hắn đều điều tra kỹ lưỡng, cực kỳ yên tâm mới thu nạp vào Bách Ngôn đường, sao nàng có thể mua chuộc họ được?”.

“Ta không mua chuộc toàn bộ. Ta chỉ mua chuộc ba người trong bọn họ, bốn người còn lại chủ động tìm đến ta”.

Hách Dịch bật cười ha ha: “Đúng thế. Muốn mua chuộc một người có lẽ còn khó, nhưng muốn mua chuộc một tập thể, lại chỉ cần dùng một chiêu chia rẽ nội bộ là xong”.

“Vì con người rất sợ cô độc. Một khi đã quen với việc hợp tác có tổ chức có phân công, thì sẽ nảy sinh tâm lý ỷ lại. Khi họ phát hiện mình bị cô lập, lập tức sẽ cảm thấy sợ hãi. Dưới sự khống chế của cảm giác sợ hãi đó, để duy trì sự cân bằng vốn có, họ sẽ mù quáng làm theo. Thất tử đều là nhân tài hàng đầu, ta tin rằng để huấn luyện họ Chiêu Doãn đã tốn rất nhiều tâm huyết. Nhưng kết quả của việc huấn luyện nghiêm khắc chính là dẫn đến việc họ quen nghe theo mệnh lệnh và sự sắp đặt của chủ nhân, một khi không có chủ nhân chỉ đạo liền bị mất phương hướng”.

“Cho nên, một khi Chiêu Doãn bị lật đổ, họ sẽ tan đàn xẻ nghé. Đánh vào từng người một sau đó thu phục hắn”. Hách Dịch nghe đến đây, không nhịn được vỗ tay khen: “Nàng quả nhiên là trưởng thành rồi. Tiểu Ngu mà ta gặp ở Trình quốc năm đó, tuy rằng thông tuệ, nhưng không có chiều sâu và tâm cơ như thế này”.

“Ngài có tin rằng người ta có thể bạc đầu chỉ trong một đêm, cũng có thể trưởng thành chỉ trong một đêm không?”.

Ánh mắt Hách Dịch lay động: “Hy Hòa bạc đầu trong một đêm… giờ sao rồi?”.

“Nàng ta đã không còn tri giác, tuy vẫn còn sống, nhưng không thể cử động, không thể suy nghĩ, giống như ngủ vĩnh viễn”.

Hách Dịch thở dài: “Mỹ nhân nghiêng nước nghiêng thành lại có kết cục này, thật là… Có điều nàng ta cũng rất giỏi, có thể giả vờ điên che mắt nàng và Chiêu Doãn, còn lừa hai người thành công”.

“Khi một người quyết tâm làm một việc gì đó sẽ luôn có kỳ tích. Nhưng ta cảm thấy, sở dĩ Chiêu Doãn không phát giác ra, ngoài Hy Hòa giả điên rất giống ra, còn có một điểm là vì Chiêu Doãn thực sự… thích nàng ta. Quan tâm tất loạn. Một người đối với người mình thích sẽ luôn phòng bị ít đi một chút”.

“Ta muốn hỏi nàng một câu, nàng phải trả lời thành thực”. Giọng Hách Dịch trở nên nghiêm túc.

“Xin bệ hạ cứ hỏi”.

“Nói thế nào thì Chiêu Doãn cũng là chồng của nàng. Nàng đối với hắn ta như thế, nàng không hối hận sao?”.

Khương Trầm Ngư nhìn xuống đất trầm tư rất lâu, lâu đến mức Hách Dịch cũng bắt đầu hối hận vì đã hỏi câu này, bèn không nhịn được nói: “Thôi, nàng có thể không trả lời…”.

Nàng bỗng nói: “Thực ra Chiêu Doãn đối với ta rất tốt”. Vì nhớ đến chuyện cũ, nên trong giọng nói của Khương Trầm Ngư chứa đựng rất nhiều tình cảm phức tạp, những tình cảm đó đan xen giao thoa lẫn nhau, không phân ra nổi nàng thấy cảm kích nhiều hơn hay là áy náy nhiều hơn.

“Tuy hắn cưới ta vào cung là trái với ý nguyện của ta, nhưng ngoài điểm đó ra, hắn đối với ta cũng không thể coi là tệ. Trong lòng ta có người khác, không muốn làm hoàng phi, hắn cũng đồng ý, cho ta làm mưu sĩ của hắn, còn sai ta đi sứ Trình quốc để ta được mở mang nhận thức. Sau khi về cung, còn cho ta tiếp tục ở bên cạnh hắn để học tập, cuối cùng, thậm chí còn phong ta làm hoàng hậu… Có lẽ hắn đối với Cơ Anh, đối với Hy Hòa, đối với rất nhiều người đều mắc nợ, nhưng đối với ta… Cho nên, những ngày qua, ngày nào ta cũng mơ thấy ác mộng, trong mơ, hắn biến thành một đứa trẻ bé xíu, áo quần rách rưới, gầy nhẳng xanh xao, hắn khóc lóc hỏi ta – Tại sao? Tại sao hắn đối với ta tốt như thế, ta lại lấy oán báo ơn? Ta làm như thế, có khác gì hắn đối với Cơ Anh? Ta… ta…”. Khương Trầm Ngư nói đến đây, tay nắm chặt vạt áo, toàn thân bắt đầu run rẩy.

“Tiểu Ngu?”. Hách Dịch đứng dậy theo bản năng, định bước vào trong, nhưng đi đến cạnh bình phong lại dừng bước, chần chừ một lúc rồi nhẹ nhàng đặt tay lên bình phong, dịu dàng nói: “Nàng có muốn nghe xem, ta nhìn nhận như thế nào về chuyện này không?”.

Khương Trầm Ngư ngẩng đầu: “Hả?”.

“Ta cảm thấy sở dĩ Chiêu Doãn đối với nàng không tệ là có hai nguyên nhân. Thứ nhất, nàng và hắn tạm thời không có xung đột về mặt lợi ích; thứ hai, tính cách nàng mềm mỏng, hiểu tâm ý người khác, hắn không lý do gì để không đối tốt với nàng. Nếu như hai điểm này không đủ để nàng thấy giải tỏa, vẫn còn điểm thứ ba – Đó chính là…”. Giọng Hách Dịch bỗng chốc trở nên nghiêm túc: “Hắn đối với nàng, căn bản không thể coi là tử tế”.

“Hả?”. Khương Trầm Ngư kinh ngạc.

“Trầm Ngư, nàng tâm địa lương thiện, phàm việc gì cũng luôn nghĩ cho người khác trước, cũng luôn nghĩ đến mặt tốt của người khác. Tại sao nàng không thử nghĩ, vì cớ gì Chiêu Doãn lại đồng ý cho nàng làm mưu sĩ của hắn? Lẽ nào không phải vì vừa hay nàng hội tụ đầy đủ tài năng cực kỳ xuất sắc về phương diện này, mà tài năng đó hắn có thể sử dụng? Chuyến đi Trình quốc không phải nhẹ nhàng, ba hoàng tử tranh đoạt ngai vị, còn có thêm một công chúa lạnh lùng vô tình, nàng suýt chút nữa mất mạng, không phải sao? Nếu nàng chết lúc đó, nàng còn thấy cảm kích hắn sao? Tại sao hắn phong cho nàng làm hoàng hậu… Thứ nhất, hắn đã đá được Cơ gia, nếu không muốn trừ bỏ nốt Khương gia, thì chỉ có cách thu phục trước đã, dù thế nào thế lực của cha nàng cũng không thể xem thường. Thứ hai, nàng đoạn tuyệt với Khương Trọng, cho thấy nàng sẽ không bị Khương Trọng lợi dụng, hắn có thể yên tâm phong nàng làm hậu, vì chí ít nàng sẽ không liên thủ với Khương Trọng để đối phó hắn; thứ ba, Cơ Hốt đã thành đồ bỏ đi, Hy Hòa phu nhân bị điên, tỉ tỉ của nàng lại không được hắn ưa thích, ngoài nàng ra, trong cung đâu còn ai khác để phong hậu nữa. Mà một quốc gia, trong một thời gian dài không có hoàng hậu, là chuyện không hợp với lễ pháp. Vậy thì, ngoài phong nàng làm hậu, hắn còn có lựa chọn nào tốt hơn đâu?”.

Không thể không nói Hách Dịch không hổ là thương nhân thành công nhất trong lịch sử, tài ăn nói cực kỳ lợi hại, khi đàm phán cũng như khi an ủi người khác đều như thế.

Khương Trầm Ngư vốn đang chìm đắm trong nỗi day dứt và tự trách bản thân, trong phút chốc đã thanh thản hơn rất nhiều, lập tức cảm kích nói:

“Bệ hạ thật biết ăn nói…”.

“Điều ta nói là sự thực. Đó chẳng qua là một mặt mà nàng không nhìn thấy mà thôi”. Hách Dịch chăm chú nhìn tấm bình phong, từ tốn nói: “Có điều, đến nay ta có thể xác thực một chuyện, tên tiểu tử Chiêu Doãn đó rốt cuộc đã làm được một chuyện tốt…”.

Khương Trầm Ngư hiếu kỳ: “Chuyện gì?”.

Hách Dịch bỗng nhếch môi cười, vẻ mặt bắt đầu trở nên thiếu nghiêm túc, khôi phục lại dáng vẻ như lần đầu nàng gặp: “Đó chính là… Chiêu Doãn, hắn… chưa động vào nàng. Đúng không?”.

Khương Trầm Ngư tuyệt đối không thể ngờ chàng lại nói đến chuyện này, mặt liền đỏ bừng lên, theo bản năng muốn giận dữ quát chàng vô lễ, Hách Dịch đã vòng qua bình phong, bước vào bên trong…

“Tiểu Ngu…”.

“Ngài!”.

Bốn mắt nhìn nhau, hai người đều ngơ ngẩn.

Với Khương Trầm Ngư, cố nhiên là kinh ngạc vì chàng không đếm xỉa đến lễ pháp mà xông vào.

Còn với Hách Dịch lại là vì nói đúng ra, đây là lần đầu tiên chàng nhìn thấy diện mạo thực sự của Khương Trầm Ngư.

Không có vết bớt màu đỏ trên mặt, cũng không ăn vận điểm trang giản dị như dược nữ.

Khương Trầm Ngư lúc này mặc áo tím phối với một chiếc váy dài màu xanh nhạt có nhiều nếp gấp, kết những hạt ngọc màu xanh biếc, cổ áo và gấu váy đều thêu hoa lê màu trắng nhỏ li ti, thật là băng tư ngọc cốt, sực nức hương thơm. Nàng vốn có dung mạo tuyệt mỹ, tư thái cao quý tao nhã, giờ hai gò má ửng hồng lại càng mê đắm lòng người.

Nhất thời, Hách Dịch nhìn ngơ ngẩn cả người.

Khương Trầm Ngư thấy chàng phản ứng như vậy, lại càng xấu hổ, không kìm được gắt khẽ: “Nhìn cái gì?”.

“Nhìn nàng”.

“Ta, ta có gì đáng nhìn!”.

Hách Dịch khẽ thở dài, giọng mơ màng như nói mê: “Trong mộng gặp nàng trăm nghìn lần, nhưng bây giờ mới biết, hóa ra nàng trông như thế này”.

“Ngài…”. Khương Trầm Ngư vừa xấu hổ vì chàng to gan thẳng thắn, lại vừa cảm động vì chàng vẫn luôn nặng tình, nhất thời, không biết phải trả lời ra sao, cuối cùng đành quay mặt nhìn sang chỗ khác: “Xin bệ hạ tự trọng”.

Hách Dịch chấn động, sắc mơ màng nơi đáy mắt cũng mau chóng tan đi, khi nhìn nàng, ánh mắt đã thêm mấy phần bi ai: “Nàng cho rằng… ta thật sự sẽ làm gì nàng sao?”.

Trái tim Khương Trầm Ngư run rẩy: “Bệ hạ?”.

“Trên thế gian này, người ta không thể nào đối phó được nhất chính là nàng”. Hách Dịch nói đoạn cất tiếng cười khổ: “Nàng gặp nạn, ta chỉ có thể cứu; nàng muốn dầm mưa, ta chỉ có thể đi cùng; nàng nói nàng là sư muội của Giang Vãn Y, ta chỉ có thể tin theo; nàng nói nàng là phi tử của Bích quốc, ta chỉ có thể trơ mắt nhìn… Tiểu Ngu, một kẻ luôn bó tay trước nàng như ta, có thể làm gì nàng cơ chứ?”. Nói rồi chàng quay người bước ra gian ngoài.

Trái tim Khương Trầm Ngư thắt lại, tựa như có một phần nào đó của bản thân cũng đi theo chàng ra ngoài, sau đó rơi độp xuống đất, vỡ thành mảnh vụn.

“Bệ hạ, Trầm Ngư lỡ lời, xin bệ hạ lượng thứ!”.

Hách Dịch dường như không nghe thấy lời xin lỗi của nàng, bỗng nói: “Ta phải đi rồi”.

“Bệ hạ, ta… ta vẫn chưa trả tiền cho ngài…”.

“Ta không cần tiền”. Trong lúc nói, Hách Dịch đã đi đến định đưa tay mở cửa.

Khương Trầm Ngư không kiềm chế được nữa, vội vàng lao ra đè lên bàn tay đang mở cửa của chàng: “Bệ hạ…”.

Nàng không thể nói hết câu vì Hách Dịch trở tay, ấn nàng lên cửa, sau đó, thân hình ấm áp ập tới ôm lấy nàng.

Nàng ngẩng đầu là nhìn thấy ánh mắt sáng rỡ có thần, như lửa rực cháy chốn đồng hoang của chàng.

Cúi đầu là nhiệt độ cuồn cuộn không dứt từ cơ thể chàng truyền sang và hơi thở đầy nam tính của chàng.

Ánh mắt Khương Trầm Ngư đầy hoảng loạn, vừa căng thẳng vừa khó xử, nhưng nàng không thể cựa quậy, chỉ có thể trơ mắt nhìn Hách Dịch gần ngay gang tấc.

Hách Dịch một tay nắm vai nàng, tay còn lại chầm chậm sờ lên gò má nàng, động tác run run nhưng dịu dàng, giọng nói đê mê mà buồn bã: “Khương, Trầm, Ngư… hóa ra, nàng ở đây…”.

“Bệ hạ?”.

“Bao nhiêu năm qua, trẫm đã gặp vô số nữ tử. Không phải là không có người xinh đẹp hơn nàng, thông minh hơn nàng, lương thiện hơn nàng, kiên cường hơn nàng… nhưng tại sao? Tại sao chỉ có nàng lại khiến trẫm khó quên như thế? Tựa như ông trời biết trẫm muốn gì, sau đó ghép từng chi tiết mà trẫm thích lại với nhau, tạo ra một mình nàng. Thế giới rộng lớn, biển người mênh mông, trẫm tìm kiếm lâu như thế, hóa ra… nàng ở nơi đây”.

Khương Trầm Ngư chỉ cảm thấy bờ môi khô khốc, không nói ra lời.

Mà gương mặt Hách Dịch trong khoảng cách gần như thế, càng nhìn càng mê hoặc, đồng tử sâu thẳm, tựa như muốn hút trọn linh hồn người ta vào trong đó, e rằng trên đời này không có bất cứ một nữ tử nào, khi đối mặt với một nam tử như thế này, mà không bị đắm chìm? Huống hồ lời chàng nói, từng câu từng chữ từng âm điệu, đều mang một sức mạnh to lớn chấn động tâm can:

“Thế nhưng… tại sao nàng lại có thể là Khương Trầm Ngư? Con gái út của Khương thị hữu tướng Bích quốc, từng là hôn thê của Kỳ Úc hầu, phi tử của quân vương Bích quốc… mỗi một thân phận đều kéo nàng ra xa ta hơn, giống như đóa tuyết liên trên núi cao, có thể ngắm từ xa mà không thể lại gần, có thể chạm tới nhưng không thể có được… khiến trẫm… khó chịu, khó chịu biết bao”.

Ánh sáng xuyên qua từng ô nhỏ trên cửa lọt vào trong, kéo dài bóng hai người trên mặt đất, quấn quít lấy nhau, tựa như một mối ràng buộc mà số phận đã sắp đặt từ lâu, được viết ngoằn ngoèo trên trang giấy duyên phận.

“Khi nàng dùng hết toàn bộ ba cây pháo hoa trẫm tặng cho nàng, trẫm tuy không nỡ nhưng đồng thời cũng thấy nhẹ nhõm, trong lòng nghĩ như thế cũng tốt, cắt đứt triệt để như thế cũng đỡ phải ngày ngày nhớ nhung mòn mỏi. Thế nhưng tại sao? Nàng nói cho trẫm biết, tại sao nữ tử tên Tiểu Ngu ấy lại giống như khảm sâu trong tâm trí của trẫm, trong từng khoảnh khắc mỗi sớm thức dậy mỗi tối đi ngủ, mỗi cái ngước mắt, khom lưng, bốn mùa trôi qua, tóc trắng đã mọc đó, hình ảnh người ấy ùa về, khiến trẫm không thể kháng cự, cũng không thể trốn tránh?”.

Ngón tay của Hách Dịch vì quá kích động mà nắm chặt hơn một chút, cơn đau từ trên bả vai truyền tới, dần dần lan ra khắp cơ thể, Khương Trầm Ngư không thể cử động, không thể không thể nói.

“Trẫm không biết tại sao phải hết lần này đến lần khác tới Bích quốc, tự lừa mình dối người nói là đến Bích quốc để làm ăn; trẫm cũng không biết tại sao lại ghét Bích vương chưa từng gặp mặt đến như thế, trong lúc đố kỵ nhất, trẫm đã hận không thể lập tức xuất binh, đánh chiếm Bích quốc… Mà sau này, trẫm lại biết người trong lòng nàng, hóa ra không phải là Chiêu Doãn mà là Cơ Anh. Cho nên, khi tin Cơ Anh đã chết truyền tới, trong lòng trẫm ngoài sự thương tiếc còn có một chút mừng trộm. Rồi sau đó, khoảnh khắc nhận được lá thư xin viện trợ của nàng, khi trẫm vui mừng xé phong thư, bàn tay trẫm run lên… Khương, Trầm, Ngư, trên đời này không phải người nào trẫm cũng chịu giúp đỡ; không phải thương vụ nào trẫm cũng chịu làm; không phải cuộc giao dịch nào trẫm cũng lo lắng; cũng không phải món nợ nào, trẫm cũng đích thân đi đòi!”.

Ngón tay chàng hơi thả lỏng, buông nàng ra, sau đó, thân hình đang áp lên người nàng cũng tách ra.

Không khí trong trẻo đột ngột xộc vào mũi, sức mạnh đè nén nàng đã biến mất, nhưng Khương Trầm Ngư vẫn áp sát trên cửa như cũ, không thể nhúc nhích. Nàng chỉ có thể mở to mắt, thẫn thờ nhìn chàng, không thể cử động, không thể nghĩ, không thể nói.

Hách Dịch hít một hơi thật sâu, giọng nói đã bình tĩnh trở lại: “Nàng nghe cho rõ đây, trẫm không cần tiền. Lần sau, nếu nàng muốn trẫm đến đòi nợ, nhớ cho kỹ phải chuẩn bị thứ mà trẫm muốn”. Nói đoạn nhẹ nhàng kéo nàng sang một bên rồi mở cửa bước ra ngoài.

Hai chân Khương Trầm Ngư mềm nhũn, men theo cánh cửa trượt xuống mặt đất. Cảm giác run rẩy lúc ấy mới bắt đầu dâng lên từ hai chân, rồi nhanh chóng tràn ra khắp cơ thể, nàng bó gối run lên bần bật.

Hoài Cẩn vẫn luôn đứng canh bên ngoài nhìn theo chiếc bóng dần khuất của Hách Dịch, rồi quay đầu nhìn Khương Trầm Ngư trong nhà, rất ý nhị không hỏi gì cả, chỉ lấy một chiếc áo khoác nhẹ nhàng đắp lên người nàng, dịu dàng bảo: “Nương nương, chúng ta nên về cung thôi”.

Khương Trầm Ngư gật đầu một cách gượng gạo.

Hoài Cẩn dìu nàng đứng dậy rời khỏi nhã xá. Xe ngựa chờ sẵn ngoài khu nhà, vì chuyến này bí mật ra khỏi cung nên họ đi bằng xe ngựa của Tiết Thái. Hai người lên xe, phu xe là Chu Long thúc ngựa, xe đi như bay về hoàng cung.

Về đến cung, Khương Trầm Ngư vừa mới bước xuống xe đã nhìn thấy trong tay Tiết Thái ôm một đống hồ sơ lớn, giống như đang đi ngang qua, lại giống như chờ đợi đã lâu, hắn trừng đôi mắt to đen láy của mình lên, trợn mắt nhìn nàng bằng một ánh mắt kỳ lạ.

Khương Trầm Ngư cố gắng nén những suy nghĩ rối bời quẩn quanh nơi đáy tim mãi không chịu tan kia xuống, giơ tay lên sờ mái tóc của mình nói:

“Sao vậy?”.

Tiết Thái trừng mắt với nàng một cái rồi quay người, mở miệng nói: “Thất tử đang đợi trong phòng”. Dừng một lát, lại thêm một câu: “Nương nương về muộn quá!”.

Khi Khương Trầm Ngư bước vào trong Bách Ngôn đường, bất ngờ phát hiện ngoài Thất tử và Tiết Thái ra còn một người nữa.

Người đó thít một chiếc khăn vuông, mặc một chiếc áo bào màu xám đơn giản, im lặng ngồi trong một góc, vì thế, thoạt nhìn Khương Trầm Ngư không nhận ra là ai, nhìn lại lần nữa mới sửng sốt kêu lên: “Di Phi?”.

Văn sĩ trước mặt giản dị không thể giản dị hơn, nho nhã không thể nho nhã hơn này lại là tam hoàng tử Trình quốc suốt ngày mặc trang phục hoa hòe hoa sói, lời nói cử chỉ phóng túng cợt nhả đó. Khương Trầm Ngư gần như không dám tin vào mắt mình.

Mà nàng càng không dám tin là gã lại xuất hiện trong hoàng cung của Bích quốc, trong thư phòng của chính mình!

“Ai, ai đưa hắn đến đây?”. Kỳ thực lời vừa phát ra khỏi miệng, nàng đã biết đáp án. Ngoài Tiết Thái ra, ai dám chưa được sự đồng ý của nàng mà đã đưa gã vào cung?

Còn Tiết Thái quả nhiên không phụ sự kỳ vọng của nàng, chớp mắt một cái, lạnh lùng đáp: “Ta”.

“Ngươi…”. Khương Trầm Ngư căn bản không biết làm thế nào khác, đành quay người nhìn sang Di Phi: “Ngươi dám ngang nhiên xuất hiện ở đây?”.

Di Phi cười hi hi, đứng dậy hành lễ, lại khôi phục điệu bộ giảo trá mà nàng quen thuộc, lắc đầu ngoẹo cổ nói: “Tiểu vương phải cải chính với nương nương ba điểm. Thứ nhất, cái gọi là ngang nhiên, hồi bẩm nương nương, tiểu vương lén lút vào cung, có thể nói ngoài những người ở đây, không đến mười người biết hôm nay tiểu vương có mặt tại hoàng cung Bích quốc, cho nên nương nương có thể yên tâm”.

Khương Trầm Ngư lạnh lừng hừ một tiếng.

“Thứ hai, tiểu vương không có chuyện gì là dám hay không dám làm. Bích vương đã dám xuống tay với Kỳ Úc hầu sau đó lại gán tội danh đó cho tiểu vương, để chứng tỏ sự thanh bạch của mình, đương nhiên tiểu vương chỉ có thể tới đây đòi lại công bằng”.

Tiếng hừ lạnh lùng của Khương Trầm Ngư chuyển thành tiếng thở dài. Ngày đó ở Hồi thành, một mặt Vệ Ngọc Hành giăng bẫy hãm hại Cơ Anh, một mặt đổ tội cho Di Phi, nhưngDi Phi há lại là nhân vật đơn giản như thế? Khi Vệ Ngọc Hành xong việc dẫn quan binh đến phòng gã ở, gã đã biến mất từ lâu rồi. Có điều như thế cũng chẳng sao, chúng liền nghĩ ra cái cớ “Trình tam hoàng tử hại chết Kỳ Úc hầu, sau đó sợ tội bỏ trốn” báo lên triều đình, vì thế, bách tính đều coi Di Phi là hung thủ đại gian đại ác, sau này Chiêu Doãn cũng giả vờ giả vịt giáng chỉ truy nã Di Phi, nhưng vì trước sau không tìm thấy người, lại thêm Khương Trầm Ngư nắm quyền, việc này dần dần cũng bị bỏ qua.

Nhưng không ngờ, nhân vật mất tích thần bí này lại xuất hiện trở lại, hơn nữa vào tận hoàng cung Bích quốc như tự tìm cái chết, lần này gã định giở trò gì đây?

Có điều, tuy trong lòng muôn vàn thắc mắc, nhưng vì “Di Phi do Tiết Thái đưa đến”, cho nên tự nhiên nàng thấy an tâm, cũng không sợ hãi là mấy.



Mà lúc này, Di Phi lại nói tiếp: “Thứ ba, tiểu vương nghĩ đi nghĩ lại, cũng chỉ có thể đến đây. Yên và Nghi đều là nước đồng minh của con tiện nhân đó, nếu tiểu vương xuất hiện trong đất của họ, không đến ngày thứ ba, có lẽ đã bị bắt giải về Trình quốc rồi. Chỉ có Bích quốc luôn công bố với bên ngoài là không đội trời chung với tiểu vương, vẫn được an toàn một chút, đây gọi là nơi nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất. Hơn nữa người nắm quyền Bích quốc hiện nay là hoàng hậu… dù sao chúng ta cũng có quen biết, hoàng hậu nhất định sẽ không nỡ để kẻ thanh bạch vô tội như tiểu vương chịu oan uծg đi tìm cái chết phải không?”. Vừa nói gã vừa làm bộ như một chú chim nhỏ sán lại gần nép vào người Khương Trầm Ngư.

Khương Trầm Ngư đang muốn tránh thì một cánh tay giơ ra tóm lấy đai lưng của Di Phi, kéo một cái, chiếc đai tụt ra.

Chủ nhân của cánh tay ấy là Tiết Thái, hắn lạnh lùng nói một câu: “Quần sắp tụt rồi”.

Di Phi khua chân múa tay loạn xạ một hồi cuối cùng mới kéo quần cười khổ nói: “Ta biết chúng ta tình cảm thắm thiết nhưng cũng đâu nhất thiết cứ hễ gặp mặt là thẳng thắn chân thành thế này?”.

Khương Trầm Ngư cười phì một tiếng, hơi quay mặt đi chỗ khác.

Tiết Thái đưa trả đai lưng cho Di Phi: “Bớt nói nhảm đi, ngồi xuống, đợi đấy rồi ký tên”.

“Ký tên cái gì?”. Khương Trầm Ngư tò mò.

Người áo vàng sẫm vội trình một cuộn giấy lên trước mặt nàng. Khương Trầm Ngư giở ra đọc, hóa ra là một bản khế ước, bên trong viết là trong thời kỳ đặc biệt, Bích quốc tạm thời thu nhận Trình tam hoàng tử, ngày sau khi Di Phi phục quốc, sẽ phải cắt bao nhiêu bao nhiêu đất cho Bích quốc, còn phải tiến cống bao nhiêu bao nhiêu tiền bạc… từng điều từng điều một, tổng cộng là hai mươi bảy điều.

Sự hà khắc của điều kiện khiến Khương Trầm Ngư cảm thấy chấn động kinh ngạc: “Điều ước mất quyền lợi nhục quốc thể như thế này mà ngươi cũng ký?”.

Di Phi để lộ biểu cảm như thể tìm thấy cọng rơm cứu mạng, mặt xị xuống, đáng thương nhìn nàng nói: “Cho nên cầu xin nương nương nể giao tình của chúng ta bớt đi cho một chút…”.

Khương Trầm Ngư bình tĩnh gấp bản khế ước lại, bình tĩnh đưa trả cho người áo vàng sẫm, bình tĩnh nói: “Thêm mười điều nữa”.

Khương Trầm Ngư vừa cười vừa quay về tẩm cung.

Nàng vừa đi vừa nghĩ đến biểu cảm của Di Phi ban nãy là lại không nhịn được cười, đến nỗi mà sau đó, Tiết Thái đi sau nàng cuối cùng không kìm được cau mày nói: “Cho dù nương nương có được thêm ba thị bạc đề cử ti(2) cũng không cần hí ha hí hửng thế chứ?”.

Khương Trầm Ngư quay đầu liếc xéo hắn một cái, thu lại nụ cười, nói: “Ta còn chưa truy cứu ngươi chuyện tiền trảm hậu tấu, dám tự ý quyết định rước tên Di Phi đó vào cửa, ngươi lại dám chê trách ta trước à?”.

Khóe mắt của Tiết Thái bắt đầu co giật.

Khương Trầm Ngư nhìn hắn: “Sao? Không còn lời gì để nói à?”.

Tiết Thái cắn răng nói: “Ta muốn nói nhưng người nào đó lại biến mất từ sáng sớm tinh mơ, đi xử lý cái gọi là chuyện ‘quan trọng’ nào đó, cho đến lúc nãy mới về, ta làm gì có cơ hội mà báo trước?”.

“Di Phi không thể hôm nay mới đến đế đô, ngươi đã liên hệ với hắn từ lâu, tại sao không nói trước cho ta?”.

Tiết Thái lộ vẻ lạnh nhạt, hai tay chắp sau lưng, thong thả nói: “Trước khi nắm chắc một việc, liệu nương nương có đi tuyên truyền ra ngoài không?”.

Hai người trừng mắt gườm gườm nhìn nhau một lúc lâu, cuối cùng vẫn là Khương Trầm Ngư nhìn đi nơi khác trước: “Ai gia không thèm chấp nhóc con”.

Phản ứng của Tiết Thái là nở một nụ cười châm chọc.

Bỗng Khương Trầm Ngư nghiêng đầu sang hỏi: “Ngươi dự định sắp xếp Di Phi như thế nào? Không thể giấu hắn trong cung được?”.

Tiết Thái chậm rãi trả lời: “Hàn lâm vốn là bát trí”.

“Rồi sao?”.

“Đến nay Bách Ngôn đường lại chỉ còn có Thất tử. Ban đầu hoàng thượng sờ dĩ chọn bảy người, là vì nương nương cũng được coi là một người trong bát trí”.

“Rồi sao?”.

“Bây giờ nương nương thành hoàng hậu, đương nhiên không thể giống như bọn họ được. Cho nên, Thất tử vẫn không hoàn chỉnh”.

“Rồi sao?”.

Cuối cùng Tiết Thái không vòng vo nữa, nhìn thẳng vào mắt nàng, nói ra câu mấu chốt của vấn đề: “Di Phi có thể làm hoa tử(3)”.

Khương Trầm Ngư cười phì thành tiếng: “Hoa tử… ha ha ha, chỉ có ngươi mới nghĩ ra, ha ha ha…”.

Tiết Thái không cười, gương mặt đầy vẻ nghiêm túc nhìn nàng.

Khương Trầm Ngư cười mãi, nói: “Hóa ra ngươi cũng thích số tám, phàm việc gì đều phải ghép cho đủ. Đúng rồi, nghe nói sinh nhật của ngươi vào mùng tám tháng tám, cho nên bây giờ đã đủ tám tuổi rồi?”.

Mặt Tiết Thái liền sầm xuống, giọng điệu cực kỳ cứng cỏi đáp lại: “Ta không thích số tám”. Tuy trước đó hắn cũng chau mày chau mặt, nhưng ít nhiều cũng ra vẻ cố ý đối chọi với Khương Trầm Ngư, bây giờ vẻ mặt hắn biến đổi như vậy, Khương Trầm Ngư lập tức nhận ra rằng hắn thực sự giận dữ.

Tuy không biết vì sao hắn bỗng nhiên nổi giận nhưng Khương Trầm Ngư cũng không cười nữa, nghiêm mặt nói: “Nên tận dụng mọi khả năng của mọi vật, ngươi nói rất đúng. Có điều, hắn trước sau gì vẫn là người Trình quốc, nhiều chuyện nội bộ của chúng ta, vẫn không thể để hắn biết được. Như thế này đi, hắn rảnh rỗi thì để hắn điều tra tung tích của Cơ Hốt đi”.

Tiết Thái im lặng nhìn nàng một lúc, sau đó khom người nói: “Tuân chỉ”.

Tâm trạng Khương Trầm Ngư vốn dĩ khó khăn lắm mới vui vẻ lên một chút, nhưng vì nói đến Cơ Hốt nên nặng nề trở lại. Bốn tháng rồi. Từ khi đoạt quyền từ tay Chiêu Doãn nàng đã tìm tung tích của Cơ Hốt ở khắp nơi, nhưng Cơ Hốt giống như bốc hơi giữa biển người, không thể tìm nổi chút manh mối nào. Có lúc, Khương Trầm Ngư không kìm được hoài nghi có lẽ mình đã bị Chiêu Doãn dắt mũi, chân tướng sự thực đúng là người đó đã chết như suy đoán trước đây của nàng, nhưng sau đó theo lời chứng của Thôi quản gia, nữ tử chèo thuyền mà nàng thấy bên hồ Phượng Thê đó, dung mạo dáng vẻ quả thực là Cơ Hốt.

Cơ Hốt đi đâu?

Ngày nào chưa tìm thấy người ấy thì ngày đó nàng chưa thể yên tâm.

Để tránh Di Phi, vị hoàng tử chưa bao giờ chịu yên phận gây chuyện trong khoảng thời gian này, một mặt cố nhiên là phải trông chừng thật kỹ, không để gã xảy ra chuyện gì không hay; một mặt cũng không thể để gã nhàn rỗi quá, phải kiếm việc cho gã làm. Hy vọng gã có thể dùng cái đầu kỳ lạ cổ quái khác biệt với người khác của mình nghĩ ra vài chủ ý hay ho, biết đâu lại có thể tìm thấy Cơ Hốt thật.

Khương Trầm Ngư vừa đau đầu suy nghĩ, vừa vô thức bước đi, đến khi nàng nghĩ thông mọi điều, ngước đầu lên. Sao nàng lại đến nơi này?

Chỗ nàng đang đứng chính là góc Tây Bắc, nơi hẻo lánh nhất của hoàng cung, cũng chính là đầu nguồn của hồ Phượng Thê, Chiêu Doãn lớn lên ở nơi này, bên hồ còn lưu giữ lại một căn nhà nhỏ rách nát. Bây giờ, nó đã đổi chủ nhân mới.

Ánh nắng ngày xuân tươi sáng rực rỡ, tịch dương đỏ chói chiếu xuống khiến mặt hồ hồng rực lên. Trên mảnh đất vốn hoang vu, nay lại trồng các loại hoa tươi theo hàng lối, những cành hoa đung đưa nhè nhẹ trong gió, đẹp như tranh vẽ.

Một người ngồi trên chiếc xe lăn bằng gỗ, đang tưới nước cho hoa, một người khác đứng đằng sau hắn, thi thoảng lại giúp một tay.

Cảnh tượng này lọt vào trong mắt Khương Trầm Ngư, càng ấm áp thêm vài phần.

Nàng đi tới, khẽ gọi: “Sư Tẩu”.

Người tưới nước quay đầu lại, đúng là Sư Tẩu. Còn người đứng đằng sau hắn lại là Điền Cửu.

Sư Tẩu nhìn thấy nàng liền bỏ bình nước xuống, đẩy xe lăn tới, dù chỉ còn lại một cánh tay, nhưng động tác vẫn rất linh hoạt. Trái lại Điền Cửu phía sau lưng hắn, vẻ mặt cứng đơ, im lặng hành lễ rồi quay người đi vào trong nhà.

Sư Tẩu lộ vẻ vui mừng, nói: “Sao chủ nhân lại tới đây?”.

“Những ngày qua ngươi sống ở đây vẫn ổn chứ?”.

“Vâng”. Sư Tẩu nhìn những đóa hoa tươi xung quanh bằng cặp mắt tràn đầy tình cảm: “Hôm nay lại có hai cây tường vi mới nở hoa”.

“Thế… ca ca ngươi, hắn có ổn không?”. Khương Trầm Ngư đưa mắt nhìn về phía căn nhà.

Sư Tẩu nhận ra suy nghĩ thật sự của nàng, cười cười: “Ca ca… vẫn không thể tiếp nhận chủ nhân, có điều, thuộc hạ nghĩ ca ca sớm muộn sẽ có ngày nghĩ thông thôi. Bởi vì chủ nhân đã cho chúng ta cuộc sống mới. Có thể trồng hoa hóng gió, chuyện trò cùng huynh trưởng, cuộc sống như thế, thuộc hạ đến nghĩ cũng chưa từng dám nghĩ. Ca ca cũng vậy”.

Khương Trầm Ngư thầm thở dài trong lòng.

Tuy y thuật cao minh của Giang Vãn Y có thể giữ được tính mạng cho Sư Tẩu, nhưng hai chân và một cánh tay bị chặt đứt và một con mắt bị móc của hắn, vĩnh viễn không thể lấy lại được. Bây giờ mở một góc nhỏ như thế này trong hoàng cung cho hắn ở, ngoài mục đích cảm ơn hắn ra, còn có một nguyên nhân khác, đó là kiềm chế Điền Cửu.

Ngày đó khi nàng dùng Sư Tẩu để dụ Điền Cửu đi, khi Điền Cửu trở lại phát hiện Chiêu Doãn đã biến thành phế nhân, biểu cảm trên gương mặt của hắn lúc đó, nàng vĩnh viễn không thể quên… Điền Cửu không ra tay với nàng để báo thù cho Chiêu Doãn, nàng đã vô cùng cảm kích hắn rồi, nào có khát vọng xa xỉ là hắn có thể quay đầu về dưới trướng của mình? Kỳ thực… trong lòng nàng cũng không phải là không thấy đáng tiếc… Nghe Chu Long nói, võ công của Điền Cửu thậm chí còn cao hơn hắn, hơn nữa luận về mưu trí tài tình đều cực kỳ xuất sắc, nếu có thể thu phục, tất sẽ như hổ mọc thêm cánh.

Thế nhưng… nhân sinh xưa nay chưa bao giờ hoàn mỹ, chẳng phải thế sao?

Như bây giờ cũng tốt rồi.

Khương Trầm Ngư lắc đầu, gạt cảm xúc tiếc nuối hụt hẫng đó sang một bên, bước tới chăm chú thưởng thức những bông hoa Sư Tẩu trồng: “Đẹp quá…”.

“Đúng thế, chỉ cần đối đãi tốt với chúng, chúng sẽ tặng cho ta phong cảnh tươi đẹp nhất. Còn khi ta ngắm chúng sẽ cảm thấy hết thảy khổ đau tan đi như mây khói, biến thành những chuyện cũ gió thoảng mây trôi”.

Khương Trầm Ngư chăm chú nhìn Sư Tẩu, ý thức một cách vô cùng rõ ràng rằng người trước mặt này và ám vệ cùng nàng đi sứ Trình quốc kia, đã là hai người hoàn toàn khác nhau. Sư Tẩu khi đó, trong đầu chỉ có nhiệm vụ, ngoài mệnh lệnh ra, vạn vật đều không tồn tại trong mắt hắn, nhưng Sư Tẩu của hiện tại, nhìn thấy trời xanh, hồ biếc và các đóa hoa muôn hồng ngàn tía, thế giới chém giết thập tử nhất sinh đó đã hoàn toàn lùi xa.

Nàng tự hỏi lòng mình, nếu đổi lại là mình liệu có chịu dùng đôi chân, cánh tay và một con mắt để đánh đổi lấy cuộc sống yên bình như thế này không? Trong lòng Khương Trầm Ngư mãi lâu sau vẫn không có câu trả lời.

Nàng rốt cuộc vẫn không phải là Sư Tẩu.

Sư Tẩu không cha không mẹ, ngoài ca ca ra không còn người thân thích nào khác. Cho nên, buông bỏ thế giới này đối với hắn mà nói không phải là mất mát, mà trái lại là có được.

Nhưng nàng thì sao? Thứ níu giữ nàng thực sự là… quá nhiều quá nhiều…

“Chủ nhân? Dường như chủ nhân rất mệt, chủ nhân không ngủ được ư?”. Sư Tẩu bỗng nhiên hỏi như vậy.

Khương Trầm Ngư vô thức giơ tay lên sờ mặt mình: “Rõ thế à?”.

“Vâng”. Sư Tẩu đẩy xe lăn về phía hồ Phượng Thê một đoạn, nhìn chăm chú nơi trời nước giao nhau đó, thong thả nói: “Chủ nhân, chủ nhân biết cảm nhận lớn nhất của thuộc hạ về những ngày này là gì không?”.

“Là gì?”.

“Cảm nhận lớn nhất của thuộc hạ là: Hóa ra, trên thế giới này có nhiều chuyện vui vẻ như thế. Ngắm một đóa hoa nở, ngắm mưa rơi, ngắm mặt trời mọc mặt trời lặn, ngắm bầy cá bơi tung tăng dưới nước… Nếu chúng ta không sinh ra làm người thì không thể lĩnh ngộ được những thứ đẹp đẽ này, cho nên, những kẻ đã được trời cao ban cho ân sủng này nên cười nhiều một chút”. Sư Tẩu nói đến đây, xoay xe lăn về phía Khương Trầm Ngư, nói với một giọng chân thành không gì sánh được: “Chủ nhân nên cười nhiều một chút”.

Khương Trầm Ngư mấp máy khóe môi, có chút khó khăn, nhưng lại cười rất chân thành.

Nàng vừa cười, Sư Tẩu liền cười theo: “Chẳng phải rất dễ sao?”.

Khương Trầm Ngư ngẩng lên đón cơn gió từ mặt hồ thổi tới, nhắm mắt lại hít một hơi thật sâu, rồi lại từ từ thở ra, sau đó mở mắt, lại cười một lần nữa. Không khí ngột ngạt trước đây dường như cũng biến mất theo hai nụ cười này, chỉ còn lưu lại cảm giác vui vẻ khi đứng trước phong cảnh đẹp đẽ này.

“Sư Tẩu, ta biết ban nãy tại sao chân của ta tự động đưa ta đến nơi này rồi…”.

Sư Tẩu nhìn nàng, dùng một con mắt nhìn nàng, dùng một con mắt vốn đen tối nhất nhưng giờ lại sáng tỏ nhất thế giới này nhìn nàng, cuối cùng mỉm cười: “Sau này nếu chủ nhân có chuyện gì không vui, xin cứ đến đây. Thuộc hạ đã không thể giúp chủ nhân được gì, nhưng nơi này của thuộc hạ có rất nhiều hoa đẹp, còn có một đôi tai nguyên vẹn nữa”.

Mắt Khương Trầm Ngư bỗng chốc ướt nhòa.

Sư Tẩu, ám vệ Chiêu Doãn tùy tiện ban cho nàng ngày đó, ở Trình quốc, họ đã cùng gặp kiếp nạn sinh tử, để bảo vệ nàng, hắn đã trở thành tàn phế, nhưng bây giờ, hắn ngồi ở đó, vẻ mặt dịu dàng hiền hòa, giọng nói bình thản, tuy yếu ớt, nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ.

Hắn lại trở thành bến cảng tâm hồn ấm áp và thanh thản nhất của nàng.

Duyên phận như thế này, ai có thể ngờ đến được?

Thế sự an bài, quả nhiên có sự kỳ diệu định mệnh…

Khi hoa hạnh nở rộ, hoàng cung của Bích quốc đón một vị khách lâu ngày không gặp.

Hắn chính là người một dạo bị cách chức trục xuất khỏi kinh sư không được quay về, là người đã viết nên huyền thoại “từ áo vải đến vương hầu, rồi lại trở về áo vải” – thần y dân gian Giang Vãn Y.

Mà lý do trở lại của hắn lần này cũng hệt như lần trước – Hy Hòa.

Cùng trúng chất độc “Giấc mộng nghìn năm”, vì Hy Hòa không uống rượu nên độc tính phát tác muộn hơn Chiêu Doãn, nhưng hàm lượng thuốc mà nàng ta uống vào người lại nhiều hơn, nên mức độ hủy hoại cơ thể cũng nghiêm trọng hơn rất nhiều. Về sau da dẻ bắt đầu xuất hiện những mảng tím bằm lớn, thậm chí lan lên tận mặt, rồi bắt đầu rữa nát, hình dạng trông cực kỳ đáng sợ.

Vì thế, Khương Trầm Ngư sai người triệu hồi Giang Vãn Y cho hắn hai lựa chọn: Hoặc là, cứu nàng ta tỉnh lại; hoặc là ngăn bệnh tình xấu đi, để Hy Hòa khôi phục dáng vẻ ban đầu.

Nhưng ngày tiếp ngày trôi qua, hoa hạnh đã rụng hết, Giang Vãn Y vẫn không tìm ra thuốc giải.

“Tại sao? Thuốc độc huynh bào chế ra mà cũng không giải được ư?”. Khương Trầm Ngư thất vọng vô cùng.

Trong Bảo Hoa cung, bên giường của Hy Hòa buông một tấm rèm rất dày, rất nặng, không nhìn thấy dung nhan của nàng ta.

Đứng bên giường Hy Hòa, Giang Vãn Y vẫn một thân áo xanh nhưng đã tiều tụy gầy guộc đi nhiều, không còn dáng vẻ “thanh sam ngọc diện Đông bích hầu”(4) lúc đi sứ Trình quốc năm xưa. Nhưng khí độ của hắn càng ngày càng trầm ổn, điềm đạm nói: “Ngày đó, khi chế ra loại độc này cho nàng ấy, ta có nói là loại thuốc này vừa mới điều chế ra vẫn chưa được thành thục lắm, sau khi uống, tùy cơ địa từng người mà có sự khác biệt. Sở dĩ Hy Hòa phu nhân xuất hiện hiện tượng hoại tử, có lẽ là do loại độc nàng ấy từng trúng. Độc tố lần trước vẫn chìm sâu trong huyết dịch hòa lẫn với ‘Giấc mộng nghìn năm’ này chuyển thành một loại kịch độc khác. Hiện nay đã vượt quá phạm vi kiểm soát mà ta có thể giải cứu, mà thời gian không cho phép ta thử nghiệm thêm nữa…”. Nói đến đây, hắn phất tay áo, quỳ xuống: “Thảo dân có một thỉnh cầu to gan”.

“Xin cứ nói”.

“Hy Hòa phu nhân… hiện tại đau đớn vô vàn, vì trúng độc nên da thịt cứng đơ nên nhìn không ra biểu cảm đau đớn, nhưng cảm giác bị rữa nát này, bất cứ người sống nào cũng không thể chịu đựng nổi. Thảo dân bất tài, không cứu nổi phu nhân, chỉ biết trơ mắt nhìn phu nhân bị hoại tử từng chút từng chút một, thực sự là… không thể đành lòng. Cho nên khẩn cầu nương nương ban cho phu nhân được chết, để nàng ấy… sớm được giải thoát”. Nói những lời này, Giang Vãn Y ngừng lại mấy lần, rõ ràng là đau khổ đến cực điểm.

Kỳ thực những gì hắn nói trong lòng Khương Trầm Ngư đều hiểu rõ, nhưng… vừa nghĩ đến để Hy Hòa chết, trong lòng liền ngàn vạn lần không muốn.

Tuy lúc này Hy Hòa đã không còn tri giác, không khác gì người chết, nhưng chỉ cần Hy Hòa còn nằm trong Bảo Hoa cung là giống như trong chốn thâm cung này vẫn còn một người quen cũ của nàng, vẫn còn một chiến hữu chứng kiến nàng đã tay đẫm máu tanh như thế nào mới đi đến bước đường này.

Bảo nàng làm sao có thể trơ mắt nhìn một người quan trọng như thế biến mất?

Đặc biệt là sau khi nàng đã để mất Cơ Anh.

Vì thế, Khương Trầm Ngư do dự tới lui, nhưng vẫn lắc đầu: “Không… không được. Huynh phải cứu nàng ấy! Vãn Y, huynh nhất định phải cứu nàng ấy!”.

Giang Vãn Y quỳ vái dưới đất, trầm giọng nói: “Nương nương, nếu nương nương thật lòng nghĩ tốt cho phu nhân, thì hãy để nàng ấy ra đi”.

“Không được! Không được!”. Khương Trầm Ngư cố chấp từ bên cạnh chiếc bàn ở gian ngoài nhảy lên, xông đến trước mặt Giang Vãn Y, tóm chặt cổ áo hắn nói: “Sư huynh, sư huynh, muội cầu xin huynh, đừng buông tay, đừng để Hy Hòa chết có được không? Sư huynh…”.

Nàng lúc này vẫn là hoàng hậu tôn quý, lại dùng hai tiếng “sư huynh” để gọi một thảo dân tầm thường, rõ ràng là muốn dùng tình xưa nghĩa cũ để làm Giang Vãn Y động lòng, nhưng Giang Vãn Y nghe xong, ánh mắt lại càng đậm nét bi ai hơn: “Sớm biết có ngày hôm nay… hà tất phải có buổi ban đầu?”.

Sắc mặt Khương Trầm Ngư hơi trắng bệch. Không sai, ban đầu khi hắn rời đế đô, đã từng khuyên nàng dừng tay, nhưng khi ấy nàng bị hận thù che mắt, cố chấp phải báo thù cho Cơ Anh, đến nay biến thành như thế này, xem ra nàng cũng khó tránh được tội, nàng vốn không nên làm khó hắn, nhưng cứ nghĩ đến người đang nằm trên giường, đang rữa nát từng chút từng chút một không phải ai khác, mà chính là Hy Hòa!

Là Hy Hòa đệ nhất mỹ nhân của bốn nước!

Là Hy Hòa mà công tử yêu nhất khi còn sống!

Là Hy Hòa tự mình gánh tất cả tội nghiệt để lại cho nàng một tiền đồ như gấm thêu!

Nàng không có cách nào chấp nhận sự thật này. Làm sao có thể chấp nhận nổi.

“Sư huynh! Sư huynh…”. Nàng vừa khóc vừa kéo tay áo của Giang Vãn Y giống như năm đó, sau khi biết bệnh tình của Cơ Anh. Hai cảnh tượng lồng vào nhau trong trí óc của Giang Vãn Y nhìn nữ tử tuy không phải sư muội thật sự của hắn, nhưng đã cùng hắn trải qua rất nhiều việc, hắn hít một hơi rất sâu.

Khương Trầm Ngư ngỡ là hắn đã bị mình thuyết phục, ngước gương mặt đầy mong chờ lên nhìn hắn.

Nhưng Giang Vãn Y lại chầm chậm rút tay áo ra khỏi tay nàng, giọng điệu ôn hòa, nhưng lại kiên quyết chậm rãi nói: “Nương nương, Hy Hòa phu nhân đã ra thế này, sao nương nương không từ bỏ một chút lòng riêng đó của mình, thực sự nghĩ cho nàng ấy một chút?”.

Khương Trầm Ngư choáng váng nặng nề: “Cái, cái, cái gì?”.

Giang Vãn Y quay người, kéo tấm rèm ra: “Nàng ấy đang thối rữa, nương nương xem đi! Mức độ thối rữa mỗi ngày mỗi nghiêm trọng, dịch mủ chảy ra từ người nàng ấy đã ngấm vào giường chiếu chăn đệm, thậm chí có cả giòi bọ lúc nhúc bò trên người nàng ấy… Nàng nhìn đi, nương nương! Nếu như nàng thực sự thích nàng ấy, sao nỡ để thân thể nàng ấy chịu đựng sự giày vò đến nhường này? Chỉ bởi vì nàng ấy không có tri giác không thể cử động, cho nên nàng cảm thấy nàng ấy không biết đau đớn, không thể đau đớn hơn nàng sao?”.

Mùi hôi thối tỏa ra từ người Hy Hòa và mùi thuốc nồng nặc trong phòng quyện lại với nhau, nhìn Hy Hòa gần như không còn hình người nằm trên giường, Khương Trầm Ngư không thể chịu đựng thêm, nhảy dựng lên: “Ý của ngươi là ta cố ý hại nàng ấy phải không? Cố ý để nàng ấy thối rữa, cố ý hủy hoại dung nhan xinh đẹp của nàng ấy phải không? GiangVãn Y ngươi to gan, ngươi dám nói như thế với bản cung! Ngươi ngông cuồng quá đấy!”.

Giang Vãn Y nhìn thẳng vào mặt nàng, nói câu sau cùng: “Thế thì xin thứ cho thảo dân bất tài, thảo dân cáo lui”. Nói rồi, quay người chầm chậm bỏ đi.

Hành động này thực sự vô cùng lạnh lùng, đặc biệt là đối với Khương Trầm Ngư lúc này, nàng há miệng đứng như trời trồng bên giường, mãi không phản ứng lại được.

Giang Vãn Y không đóng cửa, gió thổi vào ù ù, Khương Trầm Ngư bỗng nhiên quay người, bên đầu giường có đặt chậu nước và khăn bông, nàng lấy khăn bông thấm nước, rồi vắt khô, sau đó lau những vết mủ trên mặt Hy Hòa, cắn răng nói: “Hy Hòa, bọn họ đều bỏ rơi nàng, nhưng không sao cả, ta tuyệt đối tuyệt đối sẽ không bỏ rơi phu nhân, họ chê phu nhân bẩn chê phu nhân hôi, không sao, ta sẽ tắm cho phu nhân, ngày nào ta cũng tắm cho phu nhân, phu nhân sẽ khỏe lên, phu nhân nhất định, nhất định sẽ khỏe lên… Phu nhân xem này, mạch của phu nhân vẫn đang đập, mũi phu nhân vẫn đang hít thở, rõ ràng phu nhân vẫn còn sống, làm sao có thể để phu nhân chết được? Đó là mưu sát! Mưu sát!”.

Nàng ra sức lau, nhưng càng lau mủ lại càng chảy ra nhiều, không sao lau hết được, cuối cùng khiến cả gương mặt đều nhoe nhoét, Khương Trầm Ngư sững sờ nhìn khuôn mặt mà ngũ quan đã bị biến dạng đó, lại nhìn nước mủ tím đen trên tay mình, “Hy Hòa đã không thể cứu được rồi”, sự thực này bây giờ mới chậm chạp truyền đến đại não Khương Trầm Ngư, chiếc khăn bông rơi xuống đất, nàng bưng mặt mình bằng đôi tay đầy mủ, sau đó quỳ xuống, khóc thất thanh.

Tại sao một lần, hai lần, nhiều lần như thế, luôn là thế này?

Càng muốn giữ lại thứ gì, càng không thể giữ được. Chỉ có thể trơ mắt nhìn thứ đó biến mất. Hoàn toàn vô phương cứu chữa. Cả cuộc đời này của mình, rốt cuộc còn có thể có được những gì? Giữ được những gì? Bản thân chẳng giữ được thứ gì, chẳng giải quyết được gì, thì cho dù có được cả thiên hạ, cũng để làm gì đâu?

Hy Hòa, Hy Hòa, nàng có biết hay không, nàng nằm ở đây, chết đi. Giống như một lần nữa ta nhìn thấy công tử chết trước mắt ta!

Trong tiếng khóc của Khương Trầm Ngư, một bóng người từ từ tiến sát lại. Thoạt đầu nàng còn tưởng là Giang Vãn Y quay lại, sau ngẩng lên nhìn thì ra là Tiết Thái.

Trong khoảnh khắc này, Khương Trầm Ngư quên mất mình là hoàng hậu Bích quốc, quên mất tuổi tác mình lớn hơn thiếu niên trước mặt này, nàng cứ thế quỳ trên mặt đất, ngửa đầu lên, nhìn hắn bằng ánh mắt vô cùng tuyệt vọng và gương mặt giàn giụa nước mắt.

Tiết Thái vẫn im lặng, đứng nhìn nàng một lúc, trên gương mặt nhỏ nhắn trắng trẻo của hắn không bộc lộ bất cứ biểu cảm nào, sau đó, hắn đến bên giường, nhìn gương mặt bị “lau chùi” đến mức thảm hại không nỡ nhìn của Hy Hòa, trong mắt lóe lên một tia tình cảm phức tạp.

Khương Trầm Ngư còn đang lau nước mắt.

Tiết Thái quay lại nhìn nàng một cái, nhanh như chớp kéo một tấm chăn mỏng trên giường, phủ kín đầu Khương Trầm Ngư.

“Đừng nhìn”. Hắn nói.

Tấm chăn mỏng chụp xuống đầu nàng, rồi lại từ từ trượt xuống, bóng tối vụt qua, cảnh tượng trong căn phòng dần dần hiện ra trong tầm nhìn: Tấm rèm bị gió thổi không ngừng đung đưa, chiếc chăn màu tím hoa lệ mềm mại, Hy Hòa nằm trên giường giống như đang ngủ… Trái tim Khương Trầm Ngư thắt lại, chợt hiểu ra hành động vừa nãy của Tiết Thái là gì, nàng nhào tới phía trước tóm lấy cổ tay Hy Hòa, hồi lâu sau, cứng đờ ngẩng đầu lên, nhìn thấy bóng mình trong mắt Tiết Thái.

Ngày mùng bảy tháng năm năm Đồ Bích thứ năm, Hy Hòa phu nhân qua đời.



Tiết Thái đã quyết định thay cho Khương Trầm Ngư do dự thiếu quyết đoán.

Khoảnh khắc chiếc chăn che lấp tầm nhìn của nàng đó, hắn đã ấn vào tử huyệt của Hy Hòa, đặt dấu chấm hết cho kiếp người đau khổ thê thảm của một mỹ nhân vì quá đẹp mà vốn không nên có mặt trên nhân thế này.

Sau khi Hy Hòa chết, Khương Trầm Ngư từ lâu không động bút đã tự tay vẽ một bức tranh cho nàng ta.

Hy Hòa trong tranh mỉm cười đứng giữa hoa hạnh bạt ngàn trời đất.

Khi nàng vẽ bức tranh ấy, Tiết Thái im lặng đứng sau lưng nàng quan sát, lúc sau giống như nhớ ra điều gì mới nói: “Giang Vãn Y vừa rời đi nửa canh giờ trước rồi”.

Khương Trầm Ngư “ừ” một tiếng.

“Lần này ngươi không đi tiễn hắn sao?”.

Khương Trầm Ngư cười thê lương. Sau khi xảy ra cuộc tranh cãi như thế, nàng còn mặt mũi nào mà đi gặp hắn?

“Tiểu Thái…”. Nàng dừng bút, giọng nói mơ màng: “Có phải ta thay đổi rồi không?”.

“Hử?”.

“Ta cảm thấy… từ sau khi ta trở thành hoàng hậu, không, từ sau khi ta quyết tâm báo thù cho công tử, ta đã dần dần thay đổi. Quen với việc ra lệnh cho người khác, quen với việc hất hàm sai khiến người khác, quen với việc không chịu nghe lời khuyên của người khác… Trước đây ta tuyệt đối không nói với sư huynh như thế, trên thế giới này những người ta kính trọng có thể đếm được trên đầu ngón tay, mà sư huynh là một trong số đó. Thế nhưng… hôm đó ta đã cưỡng cầu, đã làm khó huynh ấy như ma xui quỷ khiến, huynh ấy không làm ta còn nổi giận… Giờ nhớ lại, ta cảm thấy thật là đáng sợ”. Khương Trầm Ngư run rẩy quay người lại, nhìn Tiết Thái: “Ta cảm thấy mình thật đáng sợ, ta, ta sao có thể biến thành thế này? Rõ ràng, rõ ràng Hy Hòa đã bắt đầu rữa nát, ta còn cố chấp không chịu để nàng ấy chết. Sư huynh nói đúng, ta… ta quá ích kỷ… Giây phút ấy, ta chỉ nghĩ nếu không có nàng ấy ta sẽ đau khổ biết bao, nhưng không nghĩ rằng, sống mới là sự giày vò lớn nhất đối với Hy Hòa…”.

Tiết Thái không nói gì chỉ lặng lẽ nhìn nàng, trong đôi đồng tử đen láy đó, trước sau chỉ mang một sắc thái lạnh lừng khó hiểu, vì thế trông như hoàn toàn không động lòng trước sự hoang mang đau khổ của nàng.

Nhưng có lẽ, phản ứng lạnh nhạt vừa khéo như thế mới là thứ Khương Trầm Ngư cần, bởi vì, nàng thực sự chỉ muốn dốc bầu tâm sự, chứ không mong được an ủi.

“Ta cảm thấy ta đang thay đổi, thay đổi nhanh đến mức không nhận ra nổi chính mình. Cả đời ta chưa bao giờ hại bất cứ ai, nhưng lại từng bước biến Chiêu Doãn thành một kẻ dở sống dở chết, còn cướp thiên hạ của hắn… Tại sao lại như thế này? Có phải là quyền lực làm con người ta sa đọa không? Ta sợ lắm, sợ một ngày nào đó khi soi gương, phát hiện người trong gương đã hoàn toàn thay đổi… Đây có phải là trưởng thành không? Thế thì, rốt cuộc ta đã trưởng thành đến mức nào rồi? Tiết Thái, ta…”.

Tiết Thái ngắt lời nàng: “Ngươi chỉ là đang làm nũng”.

Khương Trầm Ngư ngẩn người: “Làm nũng?”.

“Con đường này ban đầu là ngươi tự chọn lấy, nhưng bây giờ ngươi lại bắt đầu sợ hãi khổ sở, ngươi muốn lười biếng trốn tránh, hy vọng có ai đó đến giúp đỡ ngươi, giải quyết triệt để hết thảy những việc mà ngươi chán ghét, lát bằng con đường ngươi đi, để ngươi có thể đi trong rực rỡ vinh quang, lại có thể hai tay không dính máu tanh…”. Giọng nói non nớt còn chưa vỡ giọng của Tiết Thái, trong không khí như thế này, nghe lanh lảnh đến mức có chút đáng sợ: “Giống như Hy Hòa giúp ngươi giải quyết Chiêu Doãn, giống như ta giúp ngươi giải quyết Hy Hòa… Như thế, lương tâm của ngươi sẽ thanh thản hơn một chút, có thể lấy cái cớ ‘chí ít không phải ta đích thân hạ thủ’ để làm tê liệt bản thân an ủi bản thân, cảm thấy mình vẫn là một thiếu nữ khuê các không rành sự đời lúc ban đầu, không bị gió mưa ăn mòn, không bị thế giới bên ngoài vấy bẩn, có thể tiếp tục nhìn thế sự bằng tâm thế hồn nhiên, khoan dung…”.

Khương Trầm Ngư hoàn toàn sững sờ, không nói nổi đến nửa chữ.

“Ngươi không muốn trở nên lạnh lùng tàn khốc giống như Chiêu Doãn và vô số đế vương khác, nhưng nếu như không lạnh lùng tàn khốc thì không thể làm chuyện lớn, đây chính là điểm vướng mắc nhất hiện nay của ngươi. Nhưng đừng quên, sự tiêu vong của Chiêu Doãn bắt nguồn từ sự lạnh lùng tàn khốc của hắn, những đế vương độc ác khác cũng đâu cười được đến phút cuối. Cho nên, điều then chốt nhất không nằm ở việc muốn giành thắng lợi thì nhất định phải trở nên xấu xa, mà là cho dù xấu hay tốt, cuối cùng đều phải thắng”.

Tiết Thái nói đến đây, ánh mắt lạnh nhạt có chút thay đổi, để che giấu sự thay đổi đó, hắn quay lưng lại với nàng, nói nửa câu cuối bằng giọng điệu bình thản đều đều:

“Khương Trầm Ngư, ngươi có thể cười đến phút chót hay không? Hãy để thời gian chứng minh đi”.

Nếu cách an ủi của Hách Dịch khiến người ta ấm áp như ánh mặt trời tháng tư, có thể gạt mọi phiền não sang một bên, không nghĩ tới nữa; thì cách an ủi của Tiết Thái lại là lưỡi dao lạnh và sắc bén, chớp nhoáng cắt bỏ chỗ thịt thối khiến vết thương mau chóng lên da non.

Khương Trầm Ngư không biết hai cách thức này nàng thích cách nào hơn, nhưng trong giây phút này, từ tận đáy lòng nàng cảm thấy – thật tốt.

Khi cả thế giới vỡ vụn trước mắt rồi lại ghép lại thành một diện mạo hoàn toàn xa lạ, khi những người nàng quan tâm và coi trọng trong cuộc đời lần lượt rời xa nàng, ít nhất vận mệnh cũng để lại cho nàng hai con người này.

Đa tạ… thế này thực sự… là quá tốt rồi.

Khương Trầm Ngư cụp mắt, bình ổn tâm tư rối bời, đang định nói cảm ơn với Tiết Thái, thì bỗng cánh cửa thư phòng bị đẩy ra, mà không, bị người khác xô bật ra mới đúng.

Cung nhân đó loạng choạng xông vào, hoảng loạn mà vui mừng như điên, hò hét lảm nhảm.

Khương Trầm Ngư bỏ qua sự vô lễ của cô ta, vì cô ta hét rằng: “Nương nương! Nương nương! Quý nhân sắp sinh rồi! Sắp sinh rồi!”.

Không đợi cô ta hét xong, Khương Trầm Ngư đã xông ra ngoài như một cơn gió.

Tiết Thái cau mày, đành chạy theo ra ngoài, nhìn Khương Trầm Ngư ở phía xa chạy nhanh như bay, đến tóc mai lòa xòa cũng để mặc, hoặc là nàng căn bản chẳng chú ý tới, cứ thế không giữ hình tượng xông thẳng vào Gia Ninh cung.

Tiết Thái dừng bước, vịn lan can thở hổn hển, biểu tình trên mặt càng nghiêm nghị, giống như dự cảm được một điều gì đó chẳng lành, lại giống như nhìn thấy một việc gì đó không muốn xảy ra, nhưng cuối cũng vẫn xảy ra…

Nhưng, Khương Trầm Ngư đương nhiên không lưu ý đến biểu cảm của hắn, cái tin “tỉ tỉ sắp lâm bồn” làm nàng vui mừng khôn xiết. Vì thế, khi nàng chạy tới Gia Ninh cung, cảnh tượng nhìn thấy lại là bọn cung nữ thái giám mặt đầy lo âu, thái y mặt chau mày khổ, nhất thời ngẩn ra, sau đó, nhìn sang Giang Hoài một cách đầy cảnh giác: “Sao vậy?”.

Giang Hoài quỳ xuống: “Hồi bẩm nương nương, quý nhân khó sinh, e là… tính mạng nguy kịch”.

Câu này, giống như một chậu nước lạnh dội ào ào từ trên trời xuống, khiến nàng ướt như chuột lột từ đầu đến chân, lạnh cóng. Khương Trầm Ngư chớp mắt, nén giọng hỏi: “Ông nói gì? Nói lại xem nào?”.

“Quý nhân ngôi thai không thuận, lại dùng sức quá sớm dẫn đến kinh sợ, hơi thở yếu, cho nên…”.

Câu tiếp theo Khương Trầm Ngư không còn nghe lọt vào tai nữa, nàng bước lên phía trước mấy bước, cách tấm bình phong và màn trướng, nhìn thấy bóng người trên đó, Khương Họa Nguyệt đang rên rỉ yếu ớt, bà đỡ lo lắng thúc giục và đám cung nữ ra ra vào vào… Tất cả giao hòa với nhau một cách hỗn loạn, khiến tầm nhìn của nàng đột nhiên nhòa đi.

Khương Trầm Ngư lắc đầu mấy cái, đưa tay dụi mắt.

Giang Hoài nhận ra sự khác lạ của nàng, vội vàng chạy lên đỡ nàng, kinh sợ nói lớn: “Nương nương, nương nương không sao chứ? Nương nương vẫn nên về cung nghỉ ngơi một chút đi… Bệnh mắt của nương nương lại phát tác phải không? Người đâu, mau đi lấy thuốc”.

Trước đó mắt nàng thỉnh thoảng bị mờ, Giang Hoài đã điều chế ra một loại thuốc nước, bây giờ đem ra dùng, vội vàng lấy ra nhỏ mắt cho nàng. Sau khi nhỏ thuốc xong, KhươngTrầm Ngư nhắm mắt ngồi tựa trên ghế nghỉ ngơi một lát, khi mở mắt, mọi vật rõ hơn một chút.

Giang Hoài bấy giờ mới yên tâm: “Nương nương không sao là tốt rồi, đừng đến mức đến nương nương cũng xảy ra chuyện…”.

Khương Trầm Ngư nắm chặt tay ông ta: “Thái y, ông nhất định phải cứu tỉ tỉ của ta”.

“Nương nương yên tâm, lão thần đương nhiên sẽ dốc toàn lực… Có điều, bây giờ tình hình nguy kịch, thai nhi vẫn kẹt bên trong chưa ra, cứ kéo dài, sợ là… nếu chỉ có thể giữ được mạng một trong hai người, nương nương hãy chọn…”.

“Giữ mẹ!”.

“Giữ hoàng tử!”

Hai giọng nói đồng thời vang lên.

Khương Trầm Ngư đang hét lên câu “Giữ mẹ”, mới nghe thấy còn có một giọng nói, liền quay đầu lại thì nhìn thấy Khương Trọng vội vã chạy tới.

Khương Trọng đi vào trong điện, đến áo choàng cũng không kịp cởi, đã dặn dò Giang Hoài một lượt: “Giữ hoàng tử! Giang thái y, cho dù ông phải dùng cách gì, đứa trẻ nhất định phải được sinh ra bình an!”.

“Phụ thân!”. Khương Trầm Ngư kinh ngạc thét lên: “Cha đang nói gì thế? Lẽ nào đứa trẻ quan trọng hơn Họa Nguyệt sao?”.

“Đương nhiên quan trọng hơn Họa Nguyệt!”. Biểu cảm của Khương Trọng cực kỳ nghiêm túc, quay đầu lại nhìn nàng chằm chằm, nói gằn từng tiếng: “Đứa trẻ là thai phượng giống rồng, là huyết mạch duy nhất của đương kim thánh thượng, là người thừa kế giang sơn Bích quốc tương lai, nó quan trọng hơn Họa Nguyệt rất nhiều!”.

Khương Trầm Ngư từ lâu đã biết phụ thân máu lạnh, nhưng trong lúc này mà ông còn đến chen chân vào, thực sự khiến người ta ớn lạnh tâm can đến tột độ, nhưng sự việc nguy cấp, nàng không còn lòng dạ nào mà tranh chấp với ông, bèn quay đầu sang hạ lệnh cho Giang Hoài: “Ai gia là hoàng hậu, nghe ý chỉ của ai gia – giữ mẹ!”.

“Ta là quốc trượng, nghe mệnh lệnh của ta – giữ hoàng tử!”.

“Giữ mẹ!”

“Giữ hoàng tử!”.

“Phụ thân!”. Khương Trầm Ngư cuối cùng không nhịn được, thét lên: “Cho dù cha không coi Họa Nguyệt là con gái của mình, nhưng tỉ ấy vĩnh viễn là tỉ tỉ thân thiết nhất của con!”.

“Ta là nghĩ cho con đấy! Trầm Ngư!”. Khương Trọng tóm chặt tay nàng, nói nhanh: “Thời gian con vào cung ngắn ngủi, tuổi lại còn nhỏ như thế mà đã làm hoàng hậu, đây vốn là phúc của con, nhưng bây giờ hoàng thượng bệnh thành ra thế này mà con lại không có con cái để nương tựa, hiện tại tuy có lâm triều nghe chính sự, nhưng còn sau này thì sao? Ngộ nhỡ hoàng thượng có gì bất trắc, con phải làm thế nào? Trầm Ngư! Đứa trẻ này không chỉ quan trọng đối với Bích quốc, mà đối với con, nó cũng rất quan trọng!”.

Trái tim Khương Trầm Ngư nhói lên từng chặp, kỳ thực những điều phụ thân nói sao nàng lại không biết, tuy bây giờ nàng có thể dựa vào việc Chiêu Doãn thành kẻ dở sống dở chết mà muốn gì làm nấy, nhưng vẫn không phải là kế lâu dài. Hy Hòa đã chết, đủ chứng minh loại thuốc độc đó có thể giết người, một khi Chiêu Doãn chết đi, địa vị hoàng hậu của nàng cũng không thể giữ được, cho nên, nếu có một đứa trẻ bên cạnh, tất cả đều có thể giải quyết ổn thỏa. Thế nhưng… nhưng…

“Nhưng phụ thân… tương lai của con, có thể xảy ra vô số khả năng, vô số cơ hội, còn vô số cách để bù đắp và bổ cứu, còn Họa Nguyệt… chỉ có một thôi…”.

Đây chính là nguyên nhân vì sao nàng lại kiên trì muốn giữ tính mạng người mẹ.

Đừng nói Chiêu Doãn giờ vẫn chưa chết, cho dù nếu một ngày y đột ngột chết đi, việc là ở người, nàng không tin dựa vào năng lực và thế lực của nàng, mà không thể khống chế nổi thời cuộc, sẽ phải đi đến đường cùng.

Nhưng nếu Họa Nguyệt chết bây giờ, tức là sẽ hoàn toàn biến mất.

Nàng đã trơ mắt nhìn biết bao người ra đi như thế, những người đó là không được lựa chọn, nhưng người này có thể lựa chọn, nàng nhất định phải tranh giành một phen!

“Giữ mẹ!”. Nàng rốt cuộc đã ra mệnh lệnh cuối cùng với Giang Hoài.

Giang Hoài nhìn Khương Trọng mặt như đổ chàm nhưng không nói gì thêm, quay người, đi vào phòng sinh.

Thời gian tiếp theo biến thành một cuộc hành hình cực kỳ tàn khốc.

Tiếng rên rỉ đau đớn của Họa Nguyệt vang lên ngắt quãng, yếu ớt đến độ như thể phút sau không thể phát ra nữa, mà đám cung nữ ra ra vào vào càng lúc càng nhiều càng gấp, cảnh tượng hỗn loạn kinh khủng, khiến trái tim người ta càng rối bời hơn.

Cứ như thế, qua hai canh giờ, tiếng khóc oa oa của trẻ sơ sinh tuyên bố tất cả đã kết thúc.

Giang Hoài đầu ướt đẫm mồ hôi, áo quần ướt đẫm bước ra, run giọng nói: “May mà không nhục mệnh…”.

Khương Trầm Ngư và Khương Trọng đồng thanh hỏi:”Giữ mẹ hay giữ con?”.

“Hồi bẩm nương nương, hồi bẩm quốc trượng gia, quý phi sinh hạ hoàng tử, mẹ con bình an”.

Khương Trầm Ngư đột nhiên cảm thấy toàn thân bủn rủn, hai chân mềm nhũn, ngã vật ra ghế.

Những giọt nước mắt long lanh, vui mừng lăn xuống, hóa ra lần này, ông trời không tàn nhẫn với nàng.

Quá ổn rồi… Tỉ tỉ… quá ổn rồi.

Nửa canh giờ sau, các cung nữ dọn dẹp phòng sinh xong, dẫn Khương Trầm Ngư vào bên trong. Khi nhìn thấy Khương Họa Nguyệt sắc mặt trắng bệch như giấy nhưng rõ ràng vẫn còn “sống”, Khương Trầm Ngư cười tự đáy lòng, khẽ gọi một tiếng: “Tỉ tỉ…”. Còn chưa kịp nói lời chúc mừng đã thấy Khương Họa Nguyệt run run giơ tay về phía nàng, nàng vội vàng tiến đến nắm lấy, ngồi xuống bên đầu giường.

Rõ ràng vô cùng yếu ớt, rõ ràng đến nói cũng rất vất vả, nhưng không biết lấy sức lực từ đâu, Khương Họa Nguyệt bỗng ôm lấy nàng, ôm thật chặt.

Khương Trầm Ngư ngẩn người: “Tỉ tỉ?”.

“Trầm Ngư…”. Khương Họa Nguyệt nói bằng một giọng rất khẽ rất khẽ. “Cảm ơn”.

“Tỉ tỉ…”.

“Cảm ơn! Trầm Ngư! Cảm ơn! Cảm ơn! Cảm ơn…”. Khương Họa Nguyệt nói liền mấy tiếng cảm ơn, thanh âm lần sau lớn hơn lần trước, đến cuối cùng, cơ hồ như đang hét: “Ta… nghe thấy rồi… cảm ơn…”.

Tỉ tỉ… nghe thấy rồi.

Tuy không biết vì sao trong lúc nguy cấp như thế Khương Họa Nguyệt vẫn có thể nghe thấy nàng và phụ thân tranh cãi, nhưng không nghi ngờ gì nữa, cuộc tranh chấp này khiến Họa Nguyệt rốt cuộc đã trở lại là tỉ tỉ mà nàng quen thuộc. Tỉ tỉ thích nàng, yêu thương nàng, lúc nào cũng nghĩ cho nàng.

Hết thảy đều có thể trở lại điểm xuất phát.

Trở lại trạng thái nàng mong chờ nhất.

Khi Khương Trầm Ngư ra khỏi Gia Ninh cung đã là giờ Hợi, trời đã tối.

Trăng mờ sao thưa gió mát, có lẽ vì lòng người vui vẻ, phong cảnh trong hoàng cung nhìn cũng đẹp đẽ vô cùng. Nàng hít một hơi, xoa chiếc cổ tay hơi đau, vừa định quay về tẩm cung thì đã gặp Tiết Thái ở bên ngoài Gia Ninh cung.

Tiết Thái đứng dưới một cây bách bên đường, giống như đã chờ nàng từ lâu.

“Sao ngươi lại ở đây?”. Khương Trầm Ngư hơi ngạc nhiên: “Không về nhà à?”. Đã muộn thế này rồi.

Tiết Thái vẫn nhìn nàng chăm chăm, mặt không biếu cảm như cũ. Người bình thường khi nhìn vào mắt người khác thường là chuẩn bị lên tiếng nói chuyện. Còn hắn ngược lại khi nhìn vào mắt người khác, là để khiến đối phương chủ động lên tiếng.

Nhưng Khương Trầm Ngư đã quá quen với điều này, hắn không trả lời, nàng tự chọn chủ đề: “Đúng rồi, tỉ tỉ của ta đã sinh hạ được một nam…”.

“Ta biết rồi”. Tiết Thái ngắt lời nàng.

Cũng đúng, hắn đứng chờ bên ngoài lâu như thế, cũng biết tin từ lâu rồi. “Ta nghĩ một cái tên cho đứa trẻ, gọi là Tân Dã, ngụ ý là ‘Cách cố đỉnh tân, ốc dã thiên lý’(5), ngươi cảm thấy thế nào? Là thái tử của Bích quốc, hy vọng sau này nó có thể lãnh đạo Bích quốc ngày càng phồn vinh thịnh vượng…”.

Tiết Thái nhíu mày: “Thái tử?”.

“Đương nhiên. Ta đã sai người đi chọn ngày lành…”. Đối lập với vẻ hứng chí của Khương Trầm Ngư, Tiết Thái lại càng thâm trầm thấy rõ, hắn há miệng, giống như muốn nói gì đó, nhưng nhìn thấy Khương Trầm Ngư nói rất hăng hái, cuối cùng lại lựa chọn im lặng.

“… Tóm lại, nhất định phải làm thật hoành tráng, thật náo nhiệt!”. Khương Trầm Ngư miêu tả xong cảnh tượng trong đầu, nhìn thấy Tiết Thái vẫn giữ dáng vẻ sự việc chẳng liên quan đến mình, cảm thấy hơi mất hứng, đành đổi sang chủ đề khác: “Tại sao ngươi không về nhà?”.

Tiết Thái lạnh nhạt đáp: “Không muốn về”.

Khương Trầm Ngư nhận ra mình đã hỏi câu không nên hỏi, lập tức nín thinh.

Trước khi Cơ Anh chết, ngoài việc trao thế lực của mình cho Tiết Thái, cũng đem cả phủ đệ của mình cho Tiết Thái.

Tiết Thái hiện sống trong phủ Kỳ Úc hầu. Nhìn vật nhớ người, một Cơ phủ không có Cơ Anh, đối với hắn mà nói chẳng phải chỉ là chỗ để ăn cơm ngủ nghỉ thôi sao?

“Tiết Thái, sẽ có một ngày ngươi có được thứ ngươi muốn”. Khương Trầm Ngư nhìn hắn chằm chằm, chân thành nói: “Tin ta đi”.

Tiết Thái không đáp lại câu này của nàng.

Khương Trầm Ngư ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng treo trên bầu trời đêm, chậm rãi nói: “Mấy canh giờ trước, ta còn than phiền với ngươi, than phiền vận mệnh hà khắc với ta, ta rất tủi thân, cảm thấy không công bằng. Nhưng ngươi nói rất đúng, sở dĩ ta ấm ức, bất bình, là vì ta tham lam. Ta muốn có một số thứ, nhưng ta không chịu trả cái giá tương ứng. Cho nên ta làm nũng, ta muốn trốn tránh, ta luôn làm liên lụy đến người xung quanh. Nếu như ban đầu không phải vì cứu ta, Sư Tẩu sẽ không tàn phế; nếu như ta chịu dứt khoát một chút, Hy Hòa sẽ không cần dùng bản thân làm đồ bồi táng để đạt được mục đích; nếu như ta có thể chịu đựng đau khổ, thì nên đưa Hy Hòa đi sớm hơn… Tất cả của tất cả, đều là vì ta không làm tốt, ta không chịu trả giá bằng chính mình. Nhưng ban nãy, khi tỉ tỉ khó sinh, khoảnh khắc Giang thái y hỏi ta cần đứa trẻ hay cần tỉ tỉ, ta đã ngộ ra…”.

Ánh mắt nàng trong phút chốc sáng bừng lên, quay đầu sang nhìn Tiết Thái, mắt sáng long lanh.

“Tiểu Thái! Ta đã ngộ ra rồi! Phụ thân nói với ta, đối với ta Tân Dã cực kỳ cực kỳ quan trọng, có thể khiến con đường của ta sau này trở nên bằng phẳng, nhưng, tại sao ta nhất định phải đi con đường bằng phẳng? Nếu như gặp vấn đề thì dũng cảm đối mặt, nghĩ cách để xử lý; nếu như sợ hoàng thượng băng hà, thì tìm kiếm giải pháp, không để hắn chết; nếu như sợ triều thần làm khó mình, thì làm cho họ không thể chỉ trích… Có ai là một đời xuôi chèo mát mái, không từng bước từng bước khổ sở, nỗ lực đi tiếp đây? Dù sao cũng không thể tồi tệ hơn bây giờ, cho nên, phải chờ đợi ngày mai tốt hơn. Ta hiểu ra rồi”.

Trên gương mặt buồn rầu của Tiết Thái, cuối cùng cũnghé lộ chút biểu cảm hiền hòa, hắn nhếch khóe môi, dường như muốn cười, nhưng ánh mắt vẫn thâm trầm như cũ.

Khương Trầm Ngư liền nở nụ cười trước hắn, khẽ nói: “Cho nên, ngươi cũng không cần lo lắng Tân Dã ra đời sẽ tạo ra những ảnh hưởng không tốt với ta, nếu ngươi lo có thần tử sẽ lấy nó ra để uy hiếp địa vị của ta, thế thì tìm ra những triều thần đó, trừ bỏ họ; nếu ngươi lo lắng Tân Dã biết được sự thật về phụ vương rồi sẽ hận ta, thế thì, giáo dục nó từ nhỏ… Cho dù ngươi lo lắng điều gì, đối mặt với nó, thách thức nó, đập nát nó – sự việc là do con người làm ra”.

Cuối cùng Tiết Thái đã cười, ánh mắt lay động, môi đỏ răng trắng, mày kiếm mắt sao, ngũ quan đẹp không tả xiết.

Khương Trầm Ngư nhìn đến ngây ngẩn, khẽ than nói: “Nhóc con như ngươi, sau này lớn lên không biết sẽ làm bao nhiêu thiếu nữ đau lòng đây…”.

Nụ cười mới chớm nở của Tiết Thái trong nháy mắt đã sầm xuống, hắn trợn mắt nhìn nàng một cái: “Chẳng liên quan gì đến ngươi”.

“Là ta lo lắng thôi”.

“Ngươi lo lắng cho mình trước đi đã”.

“Ta có gì mà phải lo lắng. Ta lấy chồng rồi”.

“Cả đời làm quả phụ có gì đáng tự hào hả?”.

“Tuy đây là sự thực, nhưng ngươi nói toạc ra như thế, khiến ta bỗng cảm thấy cuộc đời mình rất bất hạnh…”.

“Ngươi vốn dĩ bất hạnh!”.

“Nhưng hôm nay ta rất may mắn, ông trời nghe thấy lời thỉnh cầu của ta, cứu tỉ tỉ của ta, cũng cứu cháu của ta…”.

“Ngươi phiền chết đi được!”.

“Bản cung không chấp trẻ con…”.

“Hứ…”.

“Hứ…”.

Ngày mùng mười tháng năm năm Đồ Bích thứ năm, Khương quý nhân sinh hạ hoàng tử, hoàng hậu vui mừng, đích thân ban tên Tân Dã, phong làm thái từ. Đại xá thiên hạ, cả nước chúc mừng.

Chú thích: (1) Nghĩa là con đường ngoằn ngoèo yên tĩnh.

(2) Đề cử ti là chức quan quản lý một lĩnh vực nào đó trong thời cổ. Thị bạc là cách gọi các thuyền bè buôn bán trong và ngoài nước, ở đây có ý nhắc đến điều khoản có lợi cho Bích quốc khi ký bản khế ước với Di Phi, Bích quốc sẽ có quyền kiểm soát, quản lý các thuyền buôn với Trình quốc.

(3) Hoa tử tức người mặc áo hoa (bát trí mỗi người mặc một màu áo)

(4) Nghĩa là “Đông Bích hầu hay mặc áo xanh, mặt đẹp như ngọc”.

(5) Cách cố đỉnh tân, ốc dã thiên lý: Nghĩa là bỏ cũ lập mới, rộng đồng màu mỡ nghìn dặm.

Bạn đang đọc truyện trên: Dtruyen.com

cô vợ nhỏ bé của tổng tài ác ma
Nguyên Tôn
truyện full

Nhận xét của độc giả về truyện Họa Quốc

Số ký tự: 0

    Bình luận Facebook